Trang phục quốc gia của Nhật Bản – Kimono

Nói đến thời trang Nhật Bản thì chắc ai ai cũng không thể bỏ qua Kimono. Kimono chính là một trong những niềm tự hào của Nhật Bản, nó gần như trở thành biểu tượng của đất nước xứ phù tang này vậy. Hôm nay Angel sẽ giới thiệu tới mọi người một số điều thú vị về Kimono. Thực ra đây là một chủ đề lớn, nếu muốn hiểu rõ thì phải đi sâu tìm hiểu cặn kẽ, nó là cả một công việc khổng lồ và mất nhiều công sức. Ở đây Angel chỉ tóm lược một số thông tin căn bản nhất, giúp mọi người hiểu hơn về Kimono mà thôi.

kimono

Kimono thực chất ban đầu có nghĩa là quần áo nói chung nhưng trải qua thời gian, với nhiều thay đổi, nó đã trở thành tên gọi riêng của loại trang phục truyền thống độc đáo này.

Theo truyền thống, áo kimono được may bằng vải dệt từ các nguyên liệu tự nhiên như vải lanh, bông, lụa. Kimono là một chiếc áo choàng được giữ cố định bằng một vành khăn rộng cuốn chặt vào người cùng với một số dây đai và dây buộc, ống tay áo dài và rộng thùng thình.

Kimono có hình dạng khác hẳn với chiếc áo choàng kiểu cổ của Trung Quốc, vốn thường bị nhầm lẫn trong tranh minh hoạ ở các sách của phương Tây. Kimono của nam giới có vành khăn đơn giản và hẹp hơn.

Áo kimono cho phụ nữ thường có các hoạ tiết hoa, lá và các biểu tượng thiên nhiên khác, phản ánh tình yêu thiên nhiên của người Nhật Bản.

Tùy theo tuổi tác của người mặc mà màu sắc được chú ý rất nghiêm ngặt, những màu có gốc sáng, đặc biệt là màu đỏ, được dùng cho trẻ em và phụ nữ trẻ chưa chồng.

Màu sắc của kimono thường để biểu thị cho các mùa trong năm, ngoài ra mỗi một tầng lớp trong xã hội cũng có một loại màu áo kimono riêng.

Đối với người dân thường, khi mặc kimono vào các dịp lễ tết, họ phải đeo một mảnh vải nhỏ có trang trí con dấu riêng của gia đình ở tay áo.

Khoảng từ 30 đến 100 ngày sau khi đứa bé chào đời, gia đình và người thân mang đứa trẻ đến đền thờ để làm một nghi lễ nhỏ. Khi đó đứa trẻ được mặc một chiếc kimono, bên dưới là màu trắng, bên trên là màu sáng (thường là màu đỏ) nếu là bé gái, hoặc màu đen nếu là bé trai. Ngoài ra, vào ngày lễ Shichigosan (15/11) các bé trai và bé gái cũng được mặc kimono.

Đối với những người bước sang tuổi 20, vào ngày lễ Thành Nhân (ngày thứ 2 của tuần thứ 2 trong tháng 1), họ cũng buộc phải mặc kimono.

Có thể chia Kimono ra làm các loại sau:

Furisode: Là loại áo chỉ dành riêng cho những cô gái chưa có chồng. Tay áo rất dài và rộng (thường dài từ 95 đến 115 cm). Thời xưa, các cô gái thường vẫy vẫy ống tay áo để bày tỏ tình yêu với các chàng trai.

Khi một cô gái Nhật Bản bước sang tuổi 20, cô ấy sẽ được công nhận là một người trưởng thành. Cô sẽ được quyền đi bầu cử, phải chịu mọi trách nhiệm về bất cứ một tội lỗi nào do cô gây ra, và được phép hút thuốc, uống rượu công khai.
Rất nhiều cha mẹ mua Furisode cho con gái họ để kỉ niệm bước ngoặt trọng đại này. Furisode là một Kimono dùng để đi lễ, dành cho các cô gái còn độc thân. Furisode có màu sắc tươi sáng và thường làm bằng lụa chất lượng tốt. Trong xã hội của Nhật, mặc Furisode là một tuyên bố rõ ràng rằng đó là một cô gái độc thân đã sẵn sàng để kết hôn.

Một trong những điểm đặc biệt của Furisode là ống tay áo của nó.

Furisode dùng để mặc trong những ngày lễ lớn, như khi đi dự đám cưới hay dự một buổi tiệc trà. Giá của một chiếc Furisode tùy thuộc vào chất liệu vải, kiểu dáng và tay nghề của người may. Một chiếc Furisode thường có giá là 15.000 USD.

Yukata: Là một loại Kimono làm bằng cotton bình thường, dùng để mặc trong mùa hè. Yukata thường mang màu sắc cực kì sáng. Cách thiết kế đơn giản của Yukata là để các cô gái Nhật có thể mặc mà không cần sự giúp đỡ (sau vài lần tập là họ có thể dễ dàng mặc được, bởi Yukata không cầu kì như Furisode).

Ngày nay, Yukata thường dùng để mặc trong ngày Bon-Odori (Ngày hội nhảy truyền thống của Nhật vào mùa hè) và các cuộc hội hè. Hơn nữa, Yukata còn được sử dụng rộng rãi trong các quán trọ truyền thống của Nhật.

Yukata được ưa chuộng bởi chất vải cotton nhẹ nhàng của nó. Vải đã được cách điệu đi từ mẫu vải có kẻ sọc ngang truyền thống. Chiếc thắt lưng cotton của Yukata cũng rất tiện dụng cho ngày thường và đồ mặc ban đêm.

Trong những ngày hội và ngày kỉ niệm sự kiện chung, Yukata thường được mặc với một chiếc thắt lưng rộng hơn, quấn quanh eo và gấp lại ở đoạn cuối. Thông thường hơn, Yukata được mặc với một thắt lưng Obi (thắt lưng thêu), đi cùng với một đôi xăng đan gỗ và một chiếc ví.

Những cô gái và phụ nữ Nhật rất thích những dịp được mặc Yukata của họ. Ngày nay không có nhiều cơ hội phù hợp để mặc những bộ quần áo truyền thống sặc sỡ như vậy. Thời xa xưa, áo Yukata chỉ dùng để mặc ở nhà sau khi vừa tắm xong . Nhưng ngày nay, áo Yukata rất được ưa chuộng (cả đàn ông lẫn phụ nữ đều có thể mặc).

Hầu hết áo Yukata được làm từ vải cotton . Theo truyền thống xưa , áo Yukata thường chỉ có hai kiểu là trắng – xanh đen hoặc xanh đen- trắng, nhưng trong một vài năm trở lại đây áo yukata đã được thiết kế với nhiều màu sắc nổi bật hơn.

Houmongi: Khi một người phụ nữ Nhật Bản kết hôn, cha mẹ thường mua cho con gái họ một chiếc Kimono khác, chiếc Houmongi. Houmongi sẽ thay thế vị trí của Furisode. Houmongi là Kimono đi lễ của những người phụ nữ đã có chồng.

Loại Kimono này thường được dùng trong khi đi tham dự một đám cưới hay tiệc trà nào đó.

Khi đón tiếp một cuộc viếng thăm trang trọng, người phụ nữ sẽ mặc áo Homongi (áo Kimono dùnh để tiếp khách).
Tomesode: Với những người phụ nữ đã kết hôn, họ sẽ không bao giờ được măc áo furisode, dù cho họ có li dị chồng đi chăng nữa. Thay vào đó, họ sẽ mặc áo Tomesode, một dạng áo Kimono với ống tay áo ngắn hơn . Áo Tomesode thường có màu đen , hoặc là nhiều màu khác . Áo Tomesode đen thường được đính gia huy tượng trưng cho họ tộc , đây là dạng áo Kimono chỉ mặc vào các dịp lễ trang trọng (như là đám cưới hoặc đám tang của họ hàng).

Những áo Tomesode nhiều màu khác cũng có thể được mặc vào các dip lễ trang trọng trên (nhưng những chiếc áo này không được đính gia huy, vả lại, khi nhắc đến Tomesode thì đa số người Nhật đều cho rằng nó-phải-là-màu-đen).
Tomesode có nền áo màu đen để đối lập với màu trắng của chiếc Shiromaku (Kimono cưới) mà cô dâu mặc. Tuy nhiên, chiếc thắt lưng thêu và nửa dưới của Tomesode có màu sắc rất sặc sỡ và sáng để tỏ rõ rằng loại Kimono này được mặc trong một dịp vui.

Mofuku: Chỉ được dùng để đi dự đám tang của họ hàng gần. Toàn bộ chiếc Kimono loại này có màu đen. Dù rằng Tomesode và Mofuku không đắt bằng một chiếc Furisode, nhưng giá mỗi chiếc Tomesode hay Mofuku là khoảng 8.000 USD.

Shiromaku: Một cô gái Nhật làm đám cưới theo truyền thống thì sẽ mặc loại Kimono rực rỡ, tráng lệ nhất. Loại Kimono này được gọi là Shiromaku. Đa số mọi người chỉ thuê loại Kimono này bởi nó chỉ được sử dụng trong một ngày, tuy nhiên, giá cho thuê của một chiếc Shiromaku cũng lên tới 5.000 USD.

Nếu bạn để ý kĩ thì bạn có thể thấy ngay rằng chiếc Shiromaku rất dài, dài đến chạm đất. Những chiếc váy cưới trắng truyền thống của phương Tây thường có đuôi váy hay một tấm lụa rất dài, rủ dài ra sau. Còn Shiromaku thì không giống như vậy. Shiromaku dài và tỏa tròn ra. Chính vì vậy, cô dâu phải có sự giúp đỡ của một người đi kèm theo thì mới có thể đi lại trong chiếc Kimono này. Màu trắng này tượng trưng cho sự tinh khiết của cô dâu cả về thể xác lẫn tinh thần

Váy này cách tân nên không còn dài chấm đất nữa.

Tsumugi: Dành cho tầng lớp nông dân và thường dân.

Tsukesage: Áo này được trang trí theo dạng hoa văn chạy dọc theo thân và lưng áo rồi gắp nhau ở đỉnh vai), áo này được mặc vào các buổi tiệc tùng trà đạo, cắm hoa và đám cưới của bạn bè.

Các phụ liệu mặc kèm theo kimono:

– Thắt lưng (Obi): Một cái obi dành cho kimono phụ nữ thường có chiều dài khoảng 4m và chiều rộng khoảng 60cm.Obi được quấn 2 vòng quanh thắt lưng và thắt ở phía sau lưng. Các phụ kiện kèm theo obi:

a. Koshi-himo Koshi-himo là vòng dây đầu tiên quấn quanh thắt lưng.Nó được làm từ những sợi tơ nhuộm màu rồi bện lại như dây thừng.

b. Date-jime là sợi dây thứ hai buộc quanh áo kimono,phủ lên trên sợi dây koshihimo.

c. Obijime Là sợi dây thừng buộc phía trên bề mặt của obi,nó có nhiều màu sắc khác nhau và màu được chọn thường làm nổi bật chiếc obi.

d. Chocho: Nơ bướm Chocho là chiếc nơ được gắn ở đằng sau obi, nhìn thì nó có cấu tạo phức tạp nhưng thực chất rất dễ mang.Chocho gồm hai phần bản rộng và phần nơ. Phần bản rộng có chiều dài 5 feet, chiều rộng là 6 inch, nó được quấn hai vòng quanh thắt lưng rồi được nhét vào phía trong. Phần nơ có một cái móc gắn để gắn vào vào obi.
Kaku và Heko bi dành cho kimono của nam. Kaku là obi dành cho các bộ kimono nam thông thường, đươc maybằng vải cotton,có chiều dài là 3,5 inch. Heko là obi mềm được dành cho các bộ yutaka.

– Taiko-musubi: Một dạng thắt lưng khác, được phát minh từ thời Edo, cũng được sử dụng như obi và rất được ưa chuộng.

– Dây cài lưng: Vào thời đại Meiji, người Nhật chế tạo ra một vật gọi là dây cài lưng ( obi-jime và obi-age).

Việc sử dụng những dây cài này với nhiều loại kiểu dáng và màu sắc khác nhau đã trở thành một cách để chứng tỏ gu thời trang của người Nhật.

– Trâm cài đầu: Vật này dành riêng cho phụ nữ. Thời xưa, mỗi khi mặc áo kimono, phụ nữ Nhật thường điểm tô cho mái tóc của mình bằng những chiếc trâm này. Ngày nay, bạn có thể thay thế chiếc trâm bằng nơ, dây buộc tóc…

– Guốc gỗ: Guốc gỗ được sử dụng rất phổ biến tại Nhật cách đây một thế kỉ, guốc của đàn ông thường to, có góc cạnh và thấp, guốc của phụ nữ thì ngược lại, tức là nhỏ nhắn và tròn. Thời xưa, người Nhật không đóng guốc mà họ “đẽo” guốc, tức là họ sử dụng những súc gỗ to để gọt đẽo thành đôi guốc mộc.

Không chỉ phụ nữ mà đàn ông cũng mặc Kimono, từ xa xưa các samurai đã có thói quen mặc Kimono:

Các Samurai của mỗi vùng được phân biệt bằng màu sắc của Kimono và các quần áo này trở thành “đồng phục” chung bao gồm:

Một chiếc Kimono, một lớp áo không có tay khoác bên ngoài gọi là Kamishimo, 1 chiếc quần xẻ như váy gọi là Hakama.

Chiếc Kamishimo được may bằng vải lanh đã được hồ cứng giúp cho bờ vai chắc chắn, nổi bật.

Với rất nhiều loại áo samurai-kimono, những người thợ may ngày càng trở nên khéo léo, lành nghề và việc may áo kimono cũng trở thành một nghệ thuật. Những bộ áo kimono cũng trở nên giá trị hơn và các bậc cha mẹ thường truyền lại kimono cho con cái như một tài sản gia truyền.

Hakama: Hakama là một loại trang phục ngoài, được mặc phủ ngoài áo kimono. Nó có thể được thiết kế giống như một cái quần dài hay giống một cái váy.

Ngày xưa, Hakama được sử dụng như một trang phục phía ngoài có chức năng bảo vệ các Samurai khỏi tuột khỏi ngựa. Ngày nay, Hakama được mặt trong các buổi lễ,các lễ hội truyền thống,tập võ và biểu diễn nghệ thuật. Hakama của nam giới thường có màu đen hoặc xám. Hakama thường được nam giới mặc tuy nhiên bạn cũng có thể bắt gặp các cô gái mặc Hakama màu đỏ trong các đền thờ Shinto.

Nếp gấp của Hakama (5 phía trước, 2 phía sau) có những ý nghĩa biểu trưng sau:
1. Yuki: Lòng quả cảm, sự dũng cảm, tính gan dạ
2. Jin: Sự nhân ái, lòng khoan dung và rộng lượng
3. Gi: Sự công bằng, ngay thẳng và chính trực
4. Rei: Nghi lễ, sự lịch thiệp, lễ độ (cũng có nghĩa là sự cúi đầu)
5. Makoto: sự chân thành, trung thực
6. Chugi: Sự trung thành, tính cống hiến
7. Meiyo: Danh dự, uy tín, vinh quang, danh tiếng, phẩm giá và danh tiếng.

Văn hóa Nhật Bản qua từng hành động

Cùng là người Châu Á, Slot Games vàng, tuy khác đất nước nhưng lại cùng nền văn hóa Á đông. Nhưng đôi khi nhìn ngẫm 1 số nét văn hóa trong cách sống của người Nhật chợt khiến tôi phải mỉm cười.

Chuyện tặng quà:

Người Nhật nổi tiếng là lễ nghi trong vấn đề quà tặng,1 khi nhận được quà của ai đó thì kiểu gì cũng sẽ tìm cách để đáp lễ lại. Khi đi dự đám cưới ,đám tang về thì sau đó gia chủ bao giờ cũng tặng quà lại cho khách để thể hiện sự hàm ơn vì khách đã đến dự lễ. Quà đó chỉ là những món đồ rất nhỏ nhưng luôn được bọc gói vô cùng cẩn thận và đáng yêu khiến cho người nhận cũng sẽ rất cảm kích vì sự chu đáo của gia chủ.

Chuyện xếp hàng:

Cho dù ở siêu thị, cửa hàng ăn, ga tàu hay những nơi dịch vụ công cộng,thì người Nhật luôn có thói quen xếp hàng. Họ có thể xếp hàng chờ trước giờ mở cửa siêu thị cả tiếng đồng hồ để chờ vào mua đồ. Cũng có lúc tôi nghĩ thật kì khôi cho sự kiên nhẫn đó nhưng có lẽ tôi lầm. Đó chính là sự tuân thủ kỷ luật của hệ thống xã hội,cũng như nét văn mình ứng xử khi biết nhẫn nhịn chờ đến lượt mình, chứ không phải chỉ biết đến cái tôi vị kỷ.

Chuyện ý thức bảo vệ môi trường:

Đó là ý thức trong cách xử lý rác thải. Từ học sinh tiểu học đã được giáo dục về việc phân loại rác cũng như ý thức bảo vệ môi trường.Nguyên liệu tái chế,hay tác hại chất thải nhà bếp chắc hẳn là những khái niệm khá xa vời đối với người Việt ta,nhưng với người Nhật thì đó là khái niệm nằm lòng.Dầu mỡ sau khi rán thay vì đổ xuống đường thoát nước thì phải được thấm sạch bằng giấy báo hoặc để đông cứng rồi mới gói lại vứt bỏ để tránh làm ô nhiễm nguồn nước thải…Đơn giản nhất là điều đó ,thế mới lý giải được vì sao không khí lại sạch sẽ thế.Là vì chính ý thức con người đã lọc sạch bầu không khí mà họ hít thở hàng ngày.

Chuyện yêu thiên nhiên cây cỏ và ca hát:

Có 1 điều chắc chắn rằng nếu bạn đi qua cửa bất cứ 1 ngôi nhà nào của người Nhật cũng thấy được bày 1 vài chậu cây hoa nhỏ ở trước cửa. Những chậu hoa nhỏ đủ màu quanh năm khoe sắc chắc là 1 thú vui ko thể thiếu của người Nhật,hẳn sẽ mang lại niềm vui mỗi khi ai đó đặt chân về đến cửa nhà.

Tôi thường xem chương trình Karaoke trên TV và thực sự là nhiều lần rơi nước mắt xúc động vì những câu chuyện và hình ảnh về con người tham gia chương trình đó. Nước Nhật là nơi đã bắt nguồn ra hình thức giải trí hát Karaoke hẳn cũng đã phần nào lý giải cho cái sự yêu ca hát của người Nhật. Trước khi đến Nhật thì cái nhìn của tôi về việc hát Karaoke hoàn toàn khác, bởi ở VN thì có lẽ đó chỉ là kiểu giải trí đặc quyền dành cho giới trẻ, chả có cụ già hay rất ít người trung niên lại đi hát Karaoke, chưa kể 1 số biến tướng tiêu cực của hình thức giải trí này.Nhưng với người Nhật thì đây hoàn toàn là 1 thú vui trong sạch, có thể hát ở quán, hát ở phòng ăn…và người già còn tích cực hơn cả lớp trẻ, đơn giản chỉ là để cùng hòa mình theo giai điệu cùng chia sẻ cảm xúc.Không phải ai cũng hát hay, nhưng họ không ngại biểu diễn trên trương trình Karaoke của TV.

Có những em học sinh, những anh công nhân, những cụ già lom khom vẫn lên hát để gửi tặng gia đình người thân. Hình ảnh 1 cụ già 85 tuổi dáng người cong,vẫn cất cao giọng hát điệu nhạc truyền thống Nhật bản, và thật không ngờ cụ lại được ban giám khảo cho số điểm cao nhất, đôi mắt rơm rớm tay run run đón nhận quà và trò chuyện cùng ban giám khảo mà khuôn mặt cụ ngời ngời hạnh phúc. Bất giác chợt khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh của khát vọng sống. Sự khích lệ của tình người là 1 món quà xúc động vô giá cho cụ niềm vui để ý nghĩa hơn nữa những ngày dài phía trước.

Trong gió không thể lọc hết những hạt bụi bay, và đâu đó vẫn còn những điều khó ưa, tuy nhiên thiết nghĩ rằng cần phải biết lọc ra những hạt cát khỏi tâm hồn mình để cảm nhận được nhiều góc đẹp hơn.

Mười món ăn kỳ lạ của người Nhật Bản

Ở Nhật, bên cạnh các món hấp dẫn như sushi, cơm hộp bento, tempura…thì cũng có rất nhiều món ăn được người ta coi là kỳ lạ nhưng lại rất phổ biến và khá được ưa chuộng. Sau đây là danh sách mười món ăn độc đáo, kỳ lạ của người dân đất nước mặt trời mọc.

1. Shirako

Đây là món ăn được chế biến từ cơ quan sinh dục của loài cá. Shirako là món ăn rất phổ biến tại hầu hết các quán rượu và các quán sushi ở Nhật.

2. Inago no Tsukudani (món ăn từ châu chấu)

Inago no Tsukudani là một trong những món ăn truyền thống từ côn trùng của người Nhật Bản. Món ăn này rất phổ biến với cư dân ở các vùng nông thôn của tỉnh Yamagata, tỉnh Nagano và quận Gunma (thuộc đảo Honshu).

“Inago” trong tiếng Nhật có nghĩa là châu chấu. Chỉ cần hầm châu chấu với tsukudani (một loại gia vị Nhật Bản thường được làm bằng cỏ biển đã được nấu nhừ trong nước tương, sake nấu và mirin) là đã có được món Inago no Tsukudani ngon lành.

nhat-ban-ky-la-mon-com-sau-chien

3. Basashi (Thịt ngựa sống)

Vì thịt ngựa sống có màu đỏ nên người Nhật vẫn gọi món ăn này là “sakura” hoặc “sakuraniku”. “Sakura” có nghĩa là hoa anh đào, còn “niku” có nghĩa đơn giản là “thịt”.

Khi thịt ngựa được thái thành những lát mỏng người Nhật gọi đó là “basashi”. Nhiều quận huyện thuộc các tỉnh Kumamoto, Nagano hay Oita nổi tiếng với basashi và đây cũng là một đặc sản của vùng Tohoku nước Nhật.

Ngoài ra còn có basashi kem – một món tráng miệng quen thuộc và hấp dẫn được làm từ thịt ngựa.

4. Natto (Đậu nành lên men)

Natto là món rất nặng mùi, hương vị nặng và được làm từ đậu nành lên men. Natto được người Nhật Bản dùng phổ biến trong các bữa sáng.

5. Fugu (cá độc)

Fugu trong tiếng Nhật được gọi cho một món ăn làm từ cá độc, tiêu biểu là loài cá nóc. Các ký tự chữ Hán được dùng để viết “fugu” được dịch với nghĩa đen là “dòng sông bẩn”.

Thịt cá nóc ăn được. Tuy nhiên da, gan và buồng trứng của loài cá này lại chứa một lượng gây chết người của chất độc tetrododoxin. Nếu ăn phải một trong những thành phần này, chất độc sẽ làm tê liệt các cơ bắp trong khi nạn nhân vẫn rất tỉnh táo. Cuối cùng, người nhiễm độc cá nóc sẽ chết vì ngạt thở.

Những nhà hàng ở Nhật chỉ có thể chế biến và phục vụ Fugu khi đảm bảo được chất lượng đầu bếp. Đầu bếp chế biến fugu phải đảm bảo những điều kiện cơ bản. Họ phải qua một quá trình học tập, kinh nghiệm thực tập ít nhất từ 2 đến 3 năm, và cũng phải trải qua những kỳ thi Quốc Gia ở Nhật Bản.

6. Hachinoko (ấu trùng ong)

Một trong những món ăn ưa thích của vị thiên hoàng Hirohito là ong bắp cày nấu với gạo, đường và nước tương. Đây là món ăn giàu protein khá quen thuộc ở Nhật.

7. Zazamushi (Côn trùng thủy sinh)

Zazamushi khá phổ biến ở Nhật Bản cả trong việc đóng hộp và chế biến món ăn tại các nhà hàng. Zazamushi không phải được gọi cho một loại côn trùng duy nhất, mà được gọi chung cho những côn trùng thủy sinh sống ở các bờ sỏi cát ven sông.

8. Thịt cá voi

Bằng chứng khoa học từ Chương trình nghiên cứu cá voi của Nhật cho thấy rằng, cá voi được tiêu thụ trên toàn nước Nhật Bản, phổ biến nhất là một loại bánh mì kẹp (whaleburger) có nhân là thịt cá voi.

9. Shiokara (Hải sản lên men)

Shiokara là món hải sản lên men của người nhật. Shiokara có thể được chế biến từ nhiều loại cá kết hợp với muối.

10. Shirouo no Odorigui

Shirouo là những chú cá rất nhỏ, trong suốt và được ăn sống. Điều thú vị của món ăn này là cảm nhận những chú cá nhảy múa trong miệng khi ăn.

Những câu tỏ tình dễ thương bằng tiếng Nhật

Các bạn học tiếng Nhật, những lúc rảnh rỗi sẽ nghì gì nhỉ, nghĩ về gia đình, công việc, … và rất quan trọng, người mình đang quan tâm nhất, và tự hỏi không biết nói như vậy tiếng Nhật thế nào nhỉ. Xin giúp các bạn tạo bất ngờ với ” đối tác ”

Đầu tiên là câu mà thường hay nói nhất

Anh yêu em.
kimino koto ga daisuki desu
君のことが大好きです

Anh đang yêu.
watashi ha aishiteiru
私は愛している

to-tinh-trong-tieng-nhat

câu tỏ tình người Nhật

Quá khứ bây giờ hay tương lai anh sẽ mãi mãi ở bên em.
kakodemo genzaidemo syouraidemo kiminosoba ni zutto iru
過去でも現在でも将来でも君のそばにずっといる

Không có em anh chẳng là gì.
omae ga inakya ore ha dame
お前がいなきゃおれはだめ

Anh tin rằng sẽ có thể làm cho em hạnh phúc. VÌ đứa trẻ trong bụng hãy cùng yêu thương nhau nhé em.
ore ha omae wo shiawase ni suru jishin ga aru. onaka no ko no tamenimo shiawase ni narou!
俺はお前を幸せにする自信がある。お腹の子のためにも幸せになろう!

Câu này hơi điêu nhỉ. Người Việt Nam mình gọi là ăn cơm trước kẻng còn Nhật thì gọi là dekicyattakon(できちゃった婚)

Mỗi ngày mỗi ngày anh đều muốn nhìn thấy nụ cười trên khuôn mặt em.
mainichi mainichi, kimi no egao wo mitai
毎日毎日、君の笑顔を見たい

Đừng buồn nữa, hãy cố gắng lên đi em
mou sabishiku naranaide, ganbatte kudasai
もう寂しくならないで、頑張ってください

 

Thơ Haiku – thể thơ độc đáo của Nhật Bản

Thơ Haiku – thể thơ độc đáo của Nhật Bản

Thơ Haiku có nguồn gốc từ 3 câu đầu của thơ Haikai (bài hài) – một thể loại thơ trào phúng của Nhật. Thơ Haiku phát triển mạnh mẽ vào thời kỳ Edo (1603 – 1867) khi đã mất dần đi sự trào phúng mà mang âm hưởng sâu thẳm của phái thiền tông.

Được khai sinh bởi thiền sư lỗi lạc Matsuo Basho, thơ haiku có lẽ là thể thơ ngắn nhất thế giới chỉ với vỏn vẹn 17 âm tiết trong 3 câu: 5+7+5.

Thơ như một bài kệ, sàn lọc từng chữ, không dư mà cũng không thiếu, cốt sao nói đến chính cái đang là – “đương hạ tức thị”. Nắm bắt thực tại ngay trong giây phút nảy mầm, cái đang xảy ra lắm khi chuyên chở cả một vũ trụ thu gọn vào trong thời điểm đó, tiểu thế giới và đại thế giới hòa nhập vào nhau. Một diễn tiến trước mắt khiến ta liên tưởng đến một hiện tượng hay biến cố nào đó trong một kinh nghiệm sống của riêng mình. Kỷ xảo của thơ Haiku là giản lược tối đa chữ nghĩa trong thơ để vận dụng trí tưởng tượng nơi người đọc. Không có người làm thơ và kẻ đọc thơ, cả hai nhập làm một, đồng âm cộng hưởng trong niềm rung cảm với sự liên hệ rất tinh tế và hài hòa của đất trời.

Thơ Haiku – thể thơ độc đáo của Nhật Bản

Thơ Haiku – thể thơ độc đáo của Nhật Bản

Một bài Haiku Nhật luôn tuân thủ hai nguyên lý tối thiểu, đó là Mùa và Tính Tương Quan Hai Hình Ảnh.Trong thơ bắt buộc phải có “Kigo” (quý ngữ) nghĩa là từ miêu tả mùa (không dùng từ xuân, hạ, thu, đông nhưng dùng các từ như hoa anh đào, cành khô, lá vàng,tuyết trắng… để chỉ các mùa), và diễn tả một hình ảnh lớn (vũ trụ) tương xứng với một hình ảnh nhỏ (đời thường).

Tiếng ve kêu râm ran (tiếng ve kêu chỉ mùa hạ)

Như tan vào trong than trong đá

Ôi, sao tĩnh lặng quá!

Ðọc thơ Haiku, ta cảm được vị trí đứng ở ngoài sự kiện của tác giả. Tác giả dường như chỉ chia sẻ với người đọc một sự kiện đã quan sát được.

Cỏ hoang trong đồng ruộng

Dẫy xong bỏ tại chỗ

Phân bón!

Nhưng người đọc vẫn có thể nghiệm được tình cảm của tác giả, một tình cảm nhè nhẹ, bàng bạc trong cả bài thơ, nói lên niềm vui sống hay sự cô đơn, đôi khi cũng nêu ra điểm tác giả thắc mắc về cuộc đời của con người: ngắn ngủi, phù du, trước sự vĩnh hằng của thiên nhiên.

Thế giới này như giọt sương kia

Có lẽ là một giọt sương

Tuy nhiên, tuy nhiên…

Thơ có xu hướng gợi ý hay ám chỉ bóng gió nhẹ nhàng. Thông thường trong thơ đưa ra hai hình ảnh: một hình ảnh trừu tượng sống động và linh hoạt, một hình ảnh cụ thể ghi dấu thời gian và nơi chốn.

Trăng soi (hình ảnh trừu tượng)

Một bầy ốc nhỏ (hình ảnh cụ thể)

Khóc than đáy nồi (nơi chốn cụ thể)

Nhà thơ không giải thích hay luận về sự liên kết giữa hai hình ảnh này, chỉ diễn tả sự vật theo bản chất tự nhiên của nó. Người làm thơ phải tự đặt mình như một đứa trẻ lúc nào cũng có cảm giác bỡ ngỡ, lạ lùng khi tiếp xúc lần đầu tiên với ngoại giới. Một bài thơ Haiku hay là làm sống lại những gì đã chôn sâu trong ký ức và đưa ra những cảm giác sâu sắc, tế nhị, để tự nó khơi lại trí tưởng tượng và mơ ước của người đọc để người đọc tự suy diễn, cảm nhận.

Chim vân tước bay

Thở ra sương gió

Dẫm lướt từng mây

Học tiếng nhật dễ dàng hơn nhờ công nghệ hiện đại

Học tiếng nhật dễ dàng hơn nhờ công nghệ hiện đại

Chúng ta ứng dụng công nghệ hằng ngày, sở hữu những thiết bị tiên tiến nhất. Đặc dụng nhất là các thiết bị smart phone bây giờ hay những chiếc máy tính bảng rất tốt để học tiếng Nhật. Mọi người thường không sử dụng tối đa lợi ích của công nghệ vào trong cuộc sống, điều này làm cho chúng ta mất đi một chi phí cơ hội cho những việc khác.Tại sao chúng ta không làm cho cuộc sống đơn giản và dễ dàng hơn, như học tiếng Nhật chẳng hạn.

Hãy tận dụng những gì công nghệ mang lại cho chúng ta, công nghệ sẽ giúp chúng ta học tiếng Nhật tốt hơn, nhanh hơn. “Công Nghệ vì cuộc sống” hay nói đúng hơn công nghệ đã làm thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào. Đặc biệt nếu bạn có ý định đi du học Nhật Bản thì nên có chiến lược, chiến thuật học tiếng Nhật Bản khôn khéo, hãy tận dụng tối đa tính năng các thiết bị công nghệ, phương pháp học thông minh – công nghệ học ngoại ngữ tiên tiến.
Công nghệ trong học tiếng Nhật Bản

Khi học từ vựng. Có rất nhiều cách như viết

Học tiếng nhật dễ dàng hơn nhờ công nghệ hiện đại

Học tiếng nhật dễ dàng hơn nhờ công nghệ hiện đại

thật nhiều lần, gạch chân những từ khó sau đó tra từ điển lại… Nhưng mọi người có biết nếu chỉ làm như thế thì sau một khoảng thời gian chúng ta sẽ quên hết những từ lúc trước đã học.Chúng ta có thể học từ vựng như thế này :

Bộ flashcard giúp nhớ từ vựng tiếng Nhật ( lặp lại dựa trên sự tự tin)

Khi học trug tam tieng nhat, mọi người sẽ lặp lại tất cả những từ đã học, cứ như vậy, chúng ta không biết từ vựng nào đã nhớ kĩ, từ vựng nào chỉ mới nhớ được 30%.Vì có quá nhiều từ để học, nên khi sử dụng phần mềm.Phần mềm sẽ hỏi từ nào bạn đã tự tin nhớ hết 100%.Từ nào chưa thì khi đó bộ phần mềm sẽ lặp lại .

Phần mềm như: Anki, voxy, brainscape

Dựa vào ngữ cảnh để học tiếng Nhật ( ngữ cảnh là rất quan trọng)

Học tiếng Nhật, chúng ta sẽ sử dụng ngữ cảnh để nhớ từ, liệt kê tất cả những từ liên quan vào ngữ cảnh đó, càng cụ thể thì càng tốt.Như vậy có thể học được rất nhiều từ vựng khác nhau, mà lại rất dễ nhớ

Phần mềm: evernote

Ngoại ngữ là kỹ năng xã hội ( Bạn trao đổi ngôn ngữ)

Mỗi người có thể kiếm cho mình một người bạn nước ngoài. Đó là cách học ngoại ngữ tốt nhất. Thường khi chúng ta nói chuyện với người nước ngoài .Ban đầu chúng ta chỉ chào hỏi xã giao.Rồi sang những lần kê tiếp chúng ta không biết phải nói gì . Cứ như vậy, cuộc nói chuyện trở nên nhàm chán và người nước ngoài cũng ít nói chuyện dần. Như vậy sẽ không thể mang lại hiệu quả.Tạo sao chúng ta lại không chủ động. Hãy tạo ra sự khác biệt thay vì chỉ nói chuyện thông thường.Hãy tạo ra những trò chơi , trãi nghiệm chứ không đơn thuần chỉ là nói chuyện.

Phần mềm : italki, verbling

Các ứng dụng hỗ trợ học tiếng Nhật như:

Lưu trữ tài liệu : google drive, dropbox

Lên lịch sự kiện: calendar, sunrise

Lập kế hoạch: any.do, wonderlist

Ghi chú: camera,evernote

Kỹ năng mềm: mindtools(web)

Đọc tin tức: flipboard, pega, pocket

Giải trí: facebook

Học tiếng anh: elllo, ted duolingo, mindsnacks.

Sáng tạo

Tất cả chúng ta khi sinh ra đều là nghệ sĩ, không bị chi phối bởi các yếu tố tác động bên ngoài .Nhưng khi lớn lên, chúng ta đã mất dần đi những điều đó.Có quá nhiều thứ làm chúng ta phải suy nghĩ và làm. Khi chưa được gia đình định hình hãy thỏa sức sáng tạo, thể hiện mọi ý tưởng và trí tưởng tượng của mình.

Chúc các bạn sớm nâng level trình độ học tiếng Nhật ngữ nhé!

Học tập ngôn ngữ và văn hóa của Nghi thức xã giao Nhật Bản

Học tập ngôn ngữ và văn hóa của Nghi thức xã giao Nhật Bản

Ngôn ngữ tiếng Nhật được xem bởi nhiều người để được dễ dàng để tìm hiểu. Cho dù bạn muốn nói tiếng Nhật vì lý do cá nhân như đi du lịch hoặc vì lý do chuyên nghiệp, điều quan trọng để bạn xem xét rằng việc học tiếng Nhật là nghi thức cũng quan trọng như học tập thường được sử dụng những từ và cụm từ.

Tại sao nói rằng việc học nói tiếng Nhật là tương đối dễ dàng? Để bắt đầu, chỉ có 5 nguyên âm âm thanh:

Một được lồng tiếng như là “ah”, hoặc cách thức các loa phát âm tiếng Anh của một trong “la;”
Tôi được phát âm như e tiếng Anh trong các từ như “cần” và trà “;”
U là vocalized theo cách tương tự như là “oo” trong các từ như “cool” và “sớm;”
E là nói với những âm thanh cùng của e đầu tiên trong từ “lá thư” và e trong “đặt;”
O được thể hiện như nó có trong từ “nói.”

Học tập ngôn ngữ và văn hóa của Nghi thức xã giao Nhật Bản

Học tập ngôn ngữ và văn hóa của Nghi thức xã giao Nhật Bản

Biết làm thế nào mỗi nguyên âm âm thanh phonetically nói làm cho các từ tiếng Nhật ít khó khăn.

Ngoài ra, ngôn ngữ Nhật Bản là ít phức tạp hơn nhiều người khác vì danh từ không được gắn với giới tính hay cùng một số từ được sử dụng cho một cây hoặc nhiều cây cối và động từ vẫn như nhau, bất kể là đối tượng. Không giống như tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp (và Latinh khác dựa trên ngôn ngữ), trong đó bạn phải học cách khác nhau để liên hợp động từ dựa trên các chủ đề, khi học tiếng Nhật, động từ sẽ là quá khứ hoặc những căng thẳng hiện nay (hoặc các hành động liên tục gợi ý về những gì có thể xảy ra trong tương lai được thể hiện với các động từ hiện tại).

Trong khi cách phát âm có thể được đơn giản một khi bạn biết làm thế nào các nguyên âm được nói, và danh từ và động từ là tương đối dễ dàng là tốt, một trong những cách mà bạn có thể vấp ngã với ngôn ngữ là từ đơn đặt hàng. Trong khi ở các câu tiếng Anh thường trong một định dạng đối tượng chịu động từ, trong tiếng Nhật họ được trình bày theo thứ tự của động từ đối tượng chịu. Tất nhiên, cũng giống như chúng tôi đã giới từ trong tiếng Anh, có một số điều trong tiếng Nhật. Một bài viết được sử dụng thường xuyên là “ka”, được sử dụng ở cuối câu hỏi một câu hỏi (mà là quan trọng bởi vì các dấu hỏi không tồn tại trong tiếng Nhật).

Mặc dù những thách thức như dấu chấm câu tồn tại trong ngôn ngữ viết, học nói và hiểu tiếng Nhật có thể được thực hiện. Có nhiều nguồn lực có sẵn trực tuyến, sách và Flashcards, cũng như phần mềm máy tính. Bởi việc tìm kiếm một trong đó sẽ được lợi nhất cho bạn và thực hành thường xuyên, bạn chắc chắn sẽ có khả năng học ngôn ngữ.

Một khi bạn đã học ngôn ngữ, và ngay cả khi bạn đang học tập, điều quan trọng để giữ phép xã giao trong tâm trí, vì làm thế nào bạn có nhiều hành động của một tác động đến cách bạn được nhận như là những từ bạn sử dụng để thể hiện chính mình.

Hãy chắc chắn rằng bạn giữ trong tâm trí sau đây:

Trừ khi bạn đang rất quen thuộc với người bạn nói chuyện với, bạn nên tránh sử dụng phrasings giản dị;

Tránh bị lớn để có được sự chú ý của một ai đó. Tốt hơn là làn sóng hoặc tiếp cận chúng với một cây cung và sau đó nói chuyện;

Sử dụng một giai điệu êm ái khi nói;

Hãy thận trọng với ngôn ngữ cơ thể của bạn càng nhiều các giao tiếp diễn ra là ngầm;

Luôn luôn tôn trọng người với người mà bạn đang nói.

Bởi duy trì tôn trọng nhân dân và nghi thức văn hóa, bạn sẽ thấy rằng bắt đầu giao tiếp bằng tiếng Nhật là đơn giản, và trong thời gian, bạn sẽ trở nên khá tốt tại nó.